8 đặc điểm của giáo dục đại học Hoa Kỳ

21:56 | 22/10/2017
Sài Gòn Tin Tức giới thiệu bài viết của Tiến sĩ Bruce Johnstone. TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ giáo dục Chuyên nghiệp- Bộ GD-ĐT chuyển ngữ

1. Cơ chế liên bang hay sự thiếu vắng một Bộ Giáo dục quốc gia


Điều khó hiểu nhất đối với người nước ngoài khi nghiên cứu về nền giáo dục nước Mỹ là ở Mỹ không có một Bộ Giáo dục quốc gia riêng. Các nước đều có một Bộ Giáo dục thuộc Chính phủ nhưng Mỹ thì không cần. Điều đó rất khó giải thích được tại sao hai tấm bằng cử nhân và tiến sĩ về cơ bản đều giống nhau ở tất cả 50 bang hoặc tại sao Chính phủ liên bang (Mỹ) có thể bảo đảm nguồn kinh phí do chính phủ cấp sẽ được dùng vào việc mua sắm cùng một hạng mục trong các trường học toàn liên bang. Ngoài ra, mặc dù một tấm bằng cử nhân lịch sử có ý nghĩa khác đối với sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học khác nhau, nhưng sự khác biệt này không khác nhau về mặt hệ thống theo từng bang mà khác nhau theo bằng cấp cao nhất được cấp của một trường đại học và tỷ lệ “chọi”cao (vì vậy bao hàm sự khác nhau về danh tiếng của trường đại học).

Cũng vì lý do này, trên thực tế các thượng nghị sỹ quốc hội, nhân viên Nhà trắng thường không hiểu một cách đầy đủ sự khác biệt này. Mặc dù Mỹ cũng có một bộ phận gọi là “Sở giáo dục” liên bang và một chuyên gia cấp chính phủ, người có vai trò gần như một “ Bộ trưởng” nhưng họ lại không có một Bộ Giáo dục quốc gia và Bộ giáo dục đại học thì lại càng không hoặc ít nhất thì giáo dục đại học cũng có liên hệ trong chừng mực nào đó với quyền lực và trách nhiệm gắn với Bộ Giáo dục như nhiều nước khác. Chính phủ Mỹ tuy rất đề cao việc tài trợ cho sinh viên và hỗ trợ nghiên cứu khoa học nhưng lại không hề có một qui định nào đối với chuẩn đầu vào của học sinh, tuyển sinh, các tiêu chuẩn bằng cấp hoặc yêu cầu về trình độ giảng viên (hoặc những qui định về tiêu chuẩn và điều kiện việc làm của giảng viên), cũng chẳng có qui định về tiêu chuẩn lựa chọn các thành Hội đồng quản trị hoặc chuyên gia cao cấp cũng như bất cứ các qui định nào có liên quan đến việc quản trị và vận hành một cơ sở đào tạo công lập hoặc tư thục.

Việc không có một Bộ Giáo dục quốc gia là do Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền và trách nhiệm của các bang thay mặt cho Chính phủ liên bang. Sự lưỡng lự trong việc quyết định vai trò của liên bang đối với nền giáo dục đại học đã sớm được khẳng định bằng một quyết định khác của Quốc hội Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 19 là không thành lập một trường đại học quốc gia. Quyết định này đã được chính phủ Mỹ (vốn hoạt động theo hình thức tập trung) theo đuổi trong suốt hai thế kỷ qua dẫn đến việc phân chia nguồn kinh phí nghiên cứu từ Chính phủ liên bang đều thông qua các cơ sở đại học chứ không thông qua hình thức thành lập các viện nghiên cứu quốc gia như Pháp, Nga và Đức vẫn làm.


2. Một hệ thống trường tư thục danh tiếng đa ngành theo phương thức kép:

Kèm theo đặc điểm thứ nhất có tính đặc thù của Mỹ là một hệ thống trường đại học tư tinh hoa theo phương thức kép. Hệ thống này rất lạ đối với Châu Âu mà còn xa lạ đối với những người thuộc các quốc gia cộng sản cũ – mặc dù ở những nước tách ra từ Liên bang Xô Viết cũ và Trung Quốc cũng xuất hiện nhiều trường tư có bản chất giống trường đại học. Tuy nhiên, ở các nước Châu Mỹ la tinh, Ấn Độ, Đông Á thì các cơ sở đào tạo đại học tư thục đã xuất hiện nhiều từ trước và được phổ biến rộng rãi, đào tạo theo nhu cầu hơn là theo mô hình tổ chức đào tạo kiểu hàn lâm và danh tiếng xã hội.




ĐH Harvard


Đặc điểm độc đáo của hệ thống trường đại học tư Mỹ chính là bản chất kép trong việc tuyển sinh và cũng chính điều này tạo nên danh tiếng cho trường. Những trường nổi tiếng nhất, tiêu chuẩn tuyển chọn cao nhất hoặc thấp nhất đều là trường tư (trường tư cũng biến động thượng vàng hạ cám ). Trường có tiêu chuẩn tuyển chọn cao nhất và tinh hoa nhất dành cho tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Những trường có tiêu chuẩn tuyển chọn thấp nhất và dành cho con cái người nghèo cũng là trường tư. Mặc dù sự can thiệp của Chính phủ vào nội bộ các trường này rất hạn chế và Quyết định số 1819 của Tòa án tối cao đã khẳng định quyền riêng tư cần thiết của trường, việc công khai sứ mệnh của trường cũng như các mối quan hệ hợp tác với cộng đồng xung quanh ở trường công và trường tư hầu như giống nhau.

Điều đáng nói của hệ thống trường tư này trong giáo dục đại học Mỹ ( gồm cả những trường đại học có nghiên cứu khoa học và các trường tinh hoa 4 năm được mô tả dưới đây) là những trường đã đạt được mức độ cao nhất về sự tuyển chọn và danh tiếng. Có được kết quả này ( kèm theo một thực tế là ở Mỹ các trường tư luôn được đặt lên hàng đầu ) do phần lớn ở việc Quốc hội Mỹ không chấp nhận thành lập một trường đại học quốc gia và sau đó trong suốt hai thế kỷ, phân bổ những đồng đô la trong Quỹ nghiên cứu khoa học của liên bang hỗ trợ cho những nghiên cứu khoa học cơ bản trực tiếp của từng trường theo cơ chế cạnh tranh công khai, hoàn trả tiền nghiên cứu đầy đủ. Ngược lại, vị trí cao về danh tiếng và tiêu chuẩn tuyển chọn đã mang lại cho các cơ sở đào tạo này những khoản tài trợ dồi dào. Các phụ huynh và học sinh luôn sẵn sàng chấp nhận trả mức học phí cao và không ngừng tăng lên theo từng năm (xem đặc điểm thứ tư trình bày dưới đây).


3. Quản trị và quyền lực cao nhất nằm trong tay Hội đồng quản trị

Sự kết hợp giữa hoài nghi của người dân với chính phủ và sự bùng nổ làn sóng trường tư ở thế kỷ 19 đã nảy sinh việc kiểm soát quyền lực tuyệt đối ( dựa trên mô hình Scotlen và Duch trước kia) theo cơ chế part-time, làm việc tự nguyện của Ban điều hành và tiếp tục được mở rộng bằng việc áp dụng mô hình quản lý này ở các trường đại học công lập tiểu bang, các trường cao đẳng cộng đồng ở thế kỷ 20. Mô hình quản trị này phù hợp và hoàn toàn minh chứng cho việc không cần có một Bộ Giáo dục quốc gia như đã nêu, khiến cho các trường đại học mỗi bang đều có một quyền tự trị tương đối so với chính phủ. Mô hình “đệm” của việc quản trị này cũng làm cho giám đốc hoặc hiệu trưởng các trường đại học Mỹ có nhiều quyền lực hơn so với hiệu trưởng các trường, học viện ở Châu Âu.

Ngày nay, khi mà chính phủ đang cố gắng giảm bớt gánh nặng về tài chính đối với hệ thống đào tạo đại học công, đồng thời ủng hộ các nguyên lý kinh tế tự do mới của tư nhân hóa (phi công lập hóa) và tự trị thì ngày càng có nhiều nước áp dụng mô hình quản lý Mỹ thay cho mô hình quản lý cũ: Mô hình bộ quản lý nhà nước và địa vị công chức của giảng viên đại học. Đồng thời, dường như có rất ít sự đánh giá “kỹ xảo” điều hành của Hội đồng quản trị, sự bắt buộc các thành viên Hội đồng tự hạn chế đối với những vấn đề về sứ mạng tổ chức, liêm khiết (về tài chính), sự lựa chọn sáng suốt và giám sát chặt chẽ hiệu trưởng. Cũng chẳng có sự đánh giá trong ở hầu hết các nước về loại bỏ vai trò công chúng, quy mô của nhiệm vụ huy động vốn, số năm “nuôi dưỡng” quỹ, luật thuế ưu đãi và lượng thời gian cần thiết để tích lũy những đóng góp hảo tâm với quy mô lớn.

Một Ban lãnh đạo công có thể là một sự can thiệp tuyệt vời giữa quyền lực công và sự hỗ trợ thể chế - là cửa sổ nhìn ra nhu cầu công chúng đối với trường đại học và nhu cầu của trường đại học với nhà nước. Thế nhưng, một Hội đồng Quản trị công hiệu quả cần một cảm giác rất không bình thường về sự ràng buộc và về sự tin cậy đối với công việc quản lý nhà trường điều rất mong manh ngay cả tại nước Mỹ với một lịch sử lâu dài về Hội đồng Quản trị quyền lực công không vì lợi nhuận. Trong một đất nước không có văn hóa Hội đồng Quản trị như thế, một Hội đồng với ít trách nhiệm giải trình có thể chỉ là một hội đồng cho sự can thiệp một cách chính trị và tham nhũng.


4. Sự lệ thuộc lớn về tài chính vào các quĩ hỗ trợ phi chính phủ hoặc các nguồn thu từ thuế

Dựa trên sự thịnh hành phổ biến của các trường đại học tư thục Mỹ dành cho các gia đình từ trung lưu trở lên kéo dài từ giữa thế kỷ 19 và sau đó lại được sự ủng hộ của các gia đình trung lưu Mỹ đang ngày càng giàu lên và việc không có một đại học quốc gia tương đương với những trường đại học danh tiếng nhất của Châu Âu, các gia đình của nước Mỹ đã quen với việc chia sẻ phần lớn những chi phí học tập cho con em họ ở giáo dục đại học. Vì vậy trong suốt thập kỷ 60, mặc dù các trường đại học và cao đẳng công của Mỹ chủ yếu nhận được sự tài trợ công nhưng các chi phí vượt trội do sự bùng nổ về số trường công do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau hậu chiến thế giới đã được chi trả phần lớn bằng những nguồn thu ngoài ngân sách chính phủ ( học phí, lệ phí, những tổ chức từ thiện và các hợp đồng nghiên cứu cạnh tranh).

Mặc cho các cử tri Mỹ không ưa thích việc đóng thuế cùng với những sự cạnh tranh đang tăng ở lĩnh vực công về những nhu cầu chăm sóc y tế và phúc lợi, giáo dục cơ bản, quốc phòng, nền giáo dục đại học Mỹ vẫn tiếp tục nhận được những nguồn tài trợ dồi dào.

Trong khi đó, ở Châu Âu ( trừ những nước như Vương quốc Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha và gần đây là Áo) tại các quốc gia theo chủ nghĩa Marxit ở Liên bang Xô Viết cũ, những nước Tây và Trung Âu, cũng như nhiều nước ở Châu Phi và Châu Á, nhà nước cam kết với giáo dục đại học miễn phí (cho cả ăn ở và đôi khi cả tiền tiêu vặt) đã đặt toàn bộ gánh nặng về tài chính này lên vai của những người chịu thuế.

Những người dân đóng thuế và các chính trị gia có thể phàn nàn về việc họ phải trả tiền cho các trường cao đẳng, đại học thuộc hệ thống công nhưng chắc chắn không có nước nào trên thế giới phải trả ít tiền thuế mà lại nhận được một nền giáo dục đại học có chất lượng như các công dân Mỹ.


5. Sự đáp ứng cao của các trường công lập và tư thục với nhu cầu của cộng đồng ( các công dân, doanh nhân) và chính phủ

“ Sự đáp ứng” những nhu cầu của chính phủ (cấp liên bang, cấp bang hay địa phương), các doanh nghiệp và cộng đồng ( đặc biệt là sinh viên và phụ huynh) tỏ ra hữu hiệu và mang lại nhiều danh tiếng. Nhưng tính đáp ứng cao của các trường cao đẳng, đại học Mỹ (ngược lại hoàn toàn với các trường Châu Âu và các nước Xô Viết cũ) không phải do có truyền thống hay lịch sử đáng nể về giáo dục hàn lâm mà là do sự kết hợp của những đặc điểm khác biệt về mặt định chế đã nêu trên. Đặc biệt, sự phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn thu phi chính phủ có nghĩa rằng các trường sẽ dành sự chăm sóc tốt nhất tới nhu cầu của các bang, chính quyền địa phương, các nhà tài trợ tiềm năng, sinh viên và các phụ huynh.

Vì các trường đại học công lập ở Mỹ ra đời vào nửa sau của thế kỷ 19, kéo dài suốt thế kỷ 20 nên mục tiêu theo đuổi tri thức vì sự nghiệp chung không đủ thuyết phục để nhận được sự hỗ trợ tài chính cần thiết từ các nhà chức trách của bang. Kết quả là phần lớn các trường đại học công lập nước Mỹ và các nhà chức trách của các bang tương ứng đã hình thành một thoả thuận có tính chiến lược. Các trường đồng ý tuyển số lượng lớn học sinh vào đại học (nhiều học sinh trong số này do học lực kém hoặc không đủ tiêu chuẩn để vào học ở các trường đại học Châu Âu) và đưa ra các mức độ về chuẩn đại học bằng việc đánh trượt nhiều học sinh trong năm học đầu và năm thứ hai. Họ có thể đưa thêm môn bóng đá vào chương trình học làm gợi lên lòng tự hào của những công dân đóng thuế. Họ có thể chiều giới doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ứng dụng và thực tế bằng cách nuôi dưỡng những ý thích nghề nghiệp của bộ phận sinh viên đại học thông qua những ngành nghề đào tạo như sư phạm, kỹ thuật, kinh doanh ở những năm trước và gần đây là những ngành như kinh doanh, truyền thông, khoa học máy tính và các khóa chuẩn bị cho nghề nghiệp. Hơn nữa, giảng viên còn cống hiến phần lớn thời gian và các trang thiết bị thí nghiệm để đáp ứng bất cứ yêu cầu về nghiên cứu khoa học nào được chính phủ tài trợ dưới dạng hoàn trả chi phí trực tiếp hoặc không trực tiếp.

Trong khi có nhiều nước chê trách tính thị trường hóa trong các trường cao đẳng, đại học Mỹ, đặc biệt là những nước theo mô hình hàn lâm cổ điển thì chính phủ ở nhiều nước đang cố gắng học theo mô hình trường cao đẳng, đại học có tính đáp ứng cao như ở Mỹ, thường được hiểu như là trách nhiệm. Và trong khi một số học giả - đặc biệt những học giả có việc làm suốt đời (tenure) là người chỉ cần có thời gian và sách hơn là cần tiền phục vụ nghiên cứu (khoa học vị khoa học – ND) – có thể chê bai sự đáp ứng và những thỏa hiệp chiến lược như đã nêu trên, thì giáo dục đại học Mỹ vẫn hoàn toàn xứng đáng và đáng được đầu tư hơn trường đại học của bất cứ nước nào khác.


6. Modul hóa các chương trình giáo dục

Tính thị trường của giáo dục đại học Mỹ, sự phụ thuộc vào học phí và mức độ khác biệt về đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp của sinh viên được tạo ra thông qua việc điều chỉnh các chương trình đào tạo hàn lâm. Bằng cấp của Mỹ được đánh giá chủ yếu dựa trên việc tích lũy tín chỉ của giáo dục đại cương, ngành học (major) và các nội dung tự chọn. Điều đáng nói ở hình thức này – ngược lại với hình thức lấy bằng chủ yếu dựa vào thi cử đang được áp dụng ở hầu hết các nước Châu Âu và thế giới – là tín chỉ của trường này cũng tốt như tín chỉ của những trường khác. Tính cạnh tranh được nâng cao và sự canh tranh sẽ tiếp tục sau kỳ tuyển học sinh đầu tiên. Ví dụ học sinh không còn hứng thú với trường đó nữa hoặc không thích một trường mà hứa hẹn nhiều hơn là thực chất làm cho sinh viên quyết định chuyển đi trường khác để tiếp tục lấy tín chỉ với thời gian ngắn hơn. Đặc điểm này cũng giúp củng cố thêm một đặc điểm nữa của giáo dục đại học Mỹ: cánh cửa vào trường đại học luôn mở rộng. Điều này có nghĩa là sự thất bại trong thi cử đại học sẽ không hoàn toàn đẩy học sinh vào ngõ cụt. Do những khó khăn trong học tập hoặc do thay đổi ý định, sinh viên có thể dùng những tín chỉ họ đã có được chuyển sang một trường khác nơi chấp nhận tín chỉ này vì vậy họ vẫn tiếp tục duy trì khả năng lấy một tấm bằng – một cơ hội mà ở nước khác có lẽ đã chấm dứt từ lâu (ở Việt Nam ???– ND).


7. Sự tách bạch giữa tấm bằng cử nhân đại học và khóa đào tạo chuyên nghiệp

Liên quan đến việc điều chỉnh chương trình học cấp bằng trong các trường đại học là khả năng có được một tấm bằng cử nhân đại học riêng biệt, kèm theo là những khóa học chuyên sâu vào một lĩnh vực nghề nghiệp như Luật, Y tế và quản lý cho đến các khóa học sau dại học. Điều này hoàn toàn khác với các trường đại học truyền thống ở Châu Âu, nơi tồn tại loại hình đào tạo gọi là “bằng thứ nhất kéo dài – long first degree” và việc vào thẳng năm thứ nhất đại học. Hầu hết các trường đại học ở Châu Âu ngày nay đang đấu tranh để được áp dụng các hình thức đào tạo cấp bằng kéo dài 3 hoặc 4 năm. Sự tách bạch rõ ràng giữa bằng cử nhân đại học và khóa học chuyên sâu nghề nghiệp đã tạo nên một đặc điểm độc đáo trong giáo dục đại học ở Mỹ, đó là: trường đại học tinh hoa, trường 4 năm cấp bằng cử nhân với một đảm bảo chắc chắn rằng sẽ không làm giảm cơ hội tham gia các khóa học chuyên nghiệp như Y tế, Luật của sinh viên mà còn tăng khả năng bằng cách đầu tiên học 4 năm đại học và vì thế nên những trường đại học tinh hoa cấp bằng cử nhân có sức hút mạnh nhiều học sinh giỏi của các trường phổ thông trung học.


8. Khả năng tiếp nhận học đại học và cánh cửa rộng mở để học lên cao


Sự kết hợp giữa khả năng đào tạo đa dạng sau trung học với một phạm vi rộng của chuẩn đầu vào bao gồm từ khả năng được chấp nhận vào một trường cao đẳng cộng đồng hoặc một trường cao đẳng tư không cần thi tuyển hay xét tuyển chẳng cần đến văn bằng chứng chỉ gì hết ngoài việc xuất trình chứng chỉ tốt nghiệp trung học phổ thông; và với sự hỗ trợ tài chính bổ sung thông qua nhiều cơ hội làm thêm ngoài giờ - có nghĩa là bất cứ một thanh niên nào cho dù là cha mẹ không có đủ năng lực về tài chính để giúp đỡ họ hoặc họ không muốn mắc nợ đều có thể tìm cho mình một chỗ học phù hợp tại một trường đại học.

Thêm vào đó, các cánh cửa mang đến cơ hội học tập không bao giờ đóng cùng một lúc. Thi trượt ở trường này không làm giảm cơ hội vào học ở một trường có tiêu chuẩn yêu cầu thấp hơn hoặc ít có tiếng tăm hơn. Tương tự vậy, những bế tắc khi học tập ở một trường hoặc việc giảm hứng thú đối với chuyên ngành này không làm gián đoạn việc sinh viên có thể thử cơ hội ở những chuyên ngành khác hoặc trường khác. Không nơi nào trên thế giới mà một thanh niên 25 tuổi đã có bằng cử nhân Lịch sử hoặc tiếng Anh có thể chuyển nghề nghiệp của mình sang lĩnh vực Dược sỹ bằng cách xin vào học tại một trường đào tạo Dược. Những ưu tiên của các trường cao đẳng, đại học cho các sắc tộc thiểu số hoặc đa sắc tộc rất rõ ràng sẽ dành cho sinh viên thuộc nhóm này sự ưu tiên trong tiêu chuẩn đầu vào và được hỗ trợ tài chính. Tóm lại, giáo dục đại học Mỹ đặc trưng bởi khả năng đón nhận sinh viên và cơ hội học tập.

Đặc điểm này gây nhiều tranh cãi, hoài nghi và thậm chí những chỉ trích xoay quanh tính dễ dãi tiếp nhận sinh viên và cơ hội học tập thứ hai để chuyên sâu nghề nghiệp không khác nào một tấm vỏ bọc mỹ miều cho nhu cầu cần có một tổ chức hỗ trợ tài chính. Những người chỉ trích còn chỉ ra một thực tế rằng việc cấp bằng đại học hoặc tấm bằng đào tạo chuyên sâu nghề nghiệp của các trường danh tiếng nhất (cánh cửa dẫn đến quyền lực trong xã hội Mỹ) luôn nghiêng về người da trắng và những người giàu có. Cuối cùng, những người chê trách việc tuyển sinh “vô tội vạ” và ngay cả tuyển sai dẫn đến việc tuyển chọn những học sinh không có năng lực làm việc, một sự đánh đổi chính trị để nhận được những kết quả học vấn.

Nhưng sự khác biệt giữa Mỹ với phần lớn các nước khác vẫn đang ở mức đối nghịch. Các nước này luôn đề cao và tích cực tuyên truyền về bình đẳng cơ hội học tập tương đương với việc thi tuyển đầu vào khách quan, tiêu chuẩn đầu vào, phải đóng góp rất ít hoặc là miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí. Sự bình đẳng về cơ hội học tập được dành cho sinh viên thật xuất sắc là con em những gia đình dân tộc thiểu số, gia đình nghèo hoặc gia đình ở nông thôn. Còn ở Mỹ, giải pháp bình đẳng về cơ hội học tập không thông qua sự thành công của những con em dân tộc thiểu số hoặc gia đình nghèo có thành tích học tập tốt mà đánh giá thông qua những kết quả học tập khiêm tốn hơn của những sinh viên nghèo hoặc sinh viên dân tộc thiểu số nhưng có học lực ở mức trung bình giống như các sinh viên khác.


Kết luận

Với những đặc điểm đã nêu trên, một bộ phận trường tư thục hùng mạnh, có truyền thống về chia sẻ chi phí học tập và module hóa các chương trình đào tạo cấp bằng đại học, kết hợp với sự quá dư thừa năng lực đã tạo ra một nền giáo dục đại học Mỹ có tính cạnh tranh cao.

Các đặc điểm này chính là “sản phẩm” độc đáo của lịch sử giáo dục đại học Mỹ dù cho có nhiều chỉ trích nhưng tựu chung lại chúng đã tạo nên một hệ thống khổng lồ, phân cấp, không cân đối, hệ thống định hình một cách quái dị (oddly) – hoặc không có hệ thống nhưng lại vận hành trơn tru. Đối với những nước có lịch sử lâu đời về giáo dục đại học thì xem giáo dục đại học Mỹ rất phức tạp, vô kế hoạch, vô lý và quá dễ dãi đối với các cơ sở đào yếu, sinh viên học yếu, chính trị hóa thái quá, dễ dãi ngay cả khi người ta “ngả mũ” đón nhận học bổng và dịch vụ đào tạo tân tiến của chúng ta. Tôi tin rằng tôi hoàn toàn có thể lý giải được và bảo vệ cho tất cả những đặc điểm có vẻ như kỳ quặc này. Giá trị thực tế của tài liệu nghiên cứu này là giúp ta hiểu biết rõ hơn về các đặc điểm đã nêu.

Bruce Johnstone- Hoa Kỳ là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu thế giới về Giáo dục đại học so sánh và Tài chính giáo dục đại học. Ông có nhiều nghiên cứu về giáo dục đại học trong các quốc gia trong quá trình chuyển đổi, tài chính giáo dục và phân tích chính sách giáo dục đại học...Bài báo trên có tiêu đề: Những bài học rút ra từ suy nghĩ về thế giới đã nhìn nhận giáo dục đại học của chúng ta thế nào”


TS Bruce Johnstone
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 
TC Vietgiao
tc cong nghe bach khoa
tra Olong
qc
truong kent